PHÒNG KHÁM ĐA KHOA ĐÔNG ĐÔ
     Chia sẻ và đồng hành cùng người bệnh!
  Y học thường thức
 
Một số dấu ấn ung thư trên lâm sàng: điều nên biết
(10:52, 14/01/2017)

Dấu ấn ung thư (tumor marker) là một khái niệm tương đối rộng, dấu ấn ung thư có thể là sản phẩm được trực tiếp tạo ra từ các tế bào ác tính (tế bào ung thư), hoặc là các sản phẩm của cơ thể tạo ra trong mối liên quan đến quá trình hình thành ung thư. Xét nghiệm dấu ấn ung thư có thể từ tổ chức khối u, từ máu, từ phân hoặc từ dịch cơ thể.

Hiện nay khái niệm dấu ấn ung thư gen học cũng ngày một phát triển, dấu ấn ung thư gen học là một khái niệm mới so với khái niệm dấu ấn ung thư truyền thống. Tuy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm gen cũng lấy từ tổ chức khối u, từ máu, từ phân hoặc từ dịch cơ thể, nhưng bản chất các gen không phải là sản phẩm của các tế bào ác tính và cũng không phải là sản phẩm của cơ thể tạo ra trong quá trình hình thành ung thư.

Dấu ấn ung thư được sử dụng trong cả sàng lọc (đánh giá nguy cơ mắc bệnh ở người bình thường), chẩn đoán bệnh, chẩn đoán giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh và theo dõi sự tái phát bệnh sau điều trị.

Tuy nhiên, bạn cần biết rằng ung thư là một quá trình phức tạp, để hình thành được ung thư thì cần có nhiều tác nhân khác nhau, bao gồm: các yếu tố nguy cơ (vi khuẩn, virus, sự tác động của quá trình vật lý-hóa học), sự phản ứng tương tác của cơ thể trước các yếu tố nguy cơ, ngoài ra cần phải có một tiến trình thời gian đủ dài. Hơn nữa, nhiều dấu ấn ung thư có thể thay đổi theo chu kỳ sinh lý cơ thể, tuổi tác, có thể tăng do quá viêm thông thường hoặc có thể tăng do sự tác động của môi trường sống và ăn uống.

Chính vì vậy, khi bạn đi xét nghiệm và thấy chỉ số dấu ấn ung thư có thay đổi thì cũng chưa nên quá hoảng loạn, đặc biệt là khi sự thay đổi không quá nhiều, vì giữa sự thay đổi giá trị xét nghiệm dấu ấn ung thư với việc bạn có bị ung thư hay không nhiều khi cần phải có sự xác định phối hợp với các phương pháp khác.

Trong phạm vi bài này, chỉ đề cập đến một số dấu ấn ung thư phổ thông hay được áp dụng trên lâm sàng hiện nay. Đây là dấu ấn ung thư chủ yếu dựa trên xét nghiệm miễm dịch huyết thanh học (bệnh phẩm là máu).

1. Alfa-fetoprotein (α-fetoprotein, AFP)

AFP là một glycoprotein lưu hành trong máu với trọng lượng khoảng 70kD (kilodaltons), AFP chủ yếu được tổng hợp từ gan của thai nhi và có thời gian bán hủy khoảng 5-7 ngày. Ngoài ra trong thời kỳ thai nhi, ngoài gan, tế bào thuộc hệ thống ống ruột (để tạo nên cơ quan tiêu hóa sau này) và một số tế bào thai nhi thuộc hệ thống tạo màng cũng có khả năng tiết ra AFP. Sau khi trẻ được sinh ra thì hàm lượng AFP trong máu nhanh chóng giảm xuống, ở người trưởng thành bình thường nồng độ AFP thường dưới 20 ng/ml.

Kể từ thời điểm phát hiện ra vai trò của AFP  trong ung thư gan, trải qua hàng chục năm nghiên cứu, các nhà y học đã chỉ ra rằng không phải cứ có nồng độ AFP tăng cao trong máu là có ung thư gan, và ngược lại không phải cứ có ung thư gan là nồng độ AFP tăng cao (đặc biệt là ung thư tế bào gan giai đoạn sớm hoặc ung thư đường mật trong gan).

Nồng độ AFP trong máu tăng cao hơn giá trị bình thường có thể gặp ở phụ nữ có thai, bệnh nhân viêm gan, xơ gan, ung thư buồng trứng, ung thư dạ dày, ung thư đường mật, ung thư tụy, ung thư phổi.

Ngược lại khi nồng độ AFP tăng cao nhưng không vượt quá 200ng/ml, nếu chỉ dựa vào chỉ số AFP đơn thuần để chẩn đoán ung thư gan thì có thể bỏ sót bệnh đến 40-50%. Chính vì vậy, để tránh bỏ sót bệnh, người thầy thuốc thường khuyên bạn cần phải làm kết hợp thêm với siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI), chụp PET-CT hay một số trường hợp cần phải làm kết kết hợp với chọc hút tế bào gan hoặc sinh thiết gan.

2. Carcinoembryonic antigen (CEA)

CEA lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1965, với bản chất là một glycoprotein bề mặt với trọng lượng phân tử khoảng 200kD do các tế bào biểu mô tiết ra, đặc biệt là tế bào biểu mô ống tiêu hóa dưới.

Tuy CEA được áp dụng chủ yếu trong chẩn đoán ung thư đại tràng – nhưng chúng ta cần lưu ý việc sàng lọc ung thư đại tràng hiện nay thì chỉ riêng chỉ số CEA chưa thể đủ độ tin cậy để tiến hành sàng lọc bệnh trong cộng đồng. Hiện nay việc sàng lọc ung thư đại tràng trong cộng đồng, các tổ chức y học vẫn khuyến cáo chủ yếu dựa vào xét nghiệm hồng cầu trong phân, nội soi đại tràng bằng ống soi mềm, hoặc nội soi không dây (nội soi viên nang: capsule endoscopy).......nhưng khi bạn bị ung đại tràng và đã điều trị, thì việc xét nghiệm định kỳ CEA 02 tháng/lần có ý nghĩa rất tốt để tầm soát bệnh có tái phát hay không.

Nồng độ CEA trong máu tăng cao có thể gặp ở người hút thuốc lá, hoặc ở nhiều bệnh lý không phải là ung thư như: viêm tụy, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm ruột (ruột non, đại tràng), xơ gan, các bệnh lý gây tắc mật, suy chức năng tuyến giáp.

Một số bệnh lý ung thư khác cũng có thể làm tăng nông độ CEA trong máu như: ung thư buồng trứng, bệnh lý khối u vùng tiểu khung, ung thư dạ dày, ung thư tụy, ung thư gan, bệnh máu ác tính, ung thư vú, hoặc thậm chí ung thư tuyến giáp và vùng đầu mặt cổ cũng có thể làm tăng nồng độ CEA trong máu.

3. Cancer antigen 125 (CA 125)

CA 125 là dấu ấn ung thư bắt đầu được sử dụng trên lâm sàng từ những năm thập niên 1980s. CA 125  được sử dụng trong cả sàng lọc, chẩn đoán, tầm soát bệnh tái phát đối với bệnh lý ung thư buồng trứng, cũng như giúp ích cho việc chẩn đoán phân biệt giữa ung thư buồng trứng với các bệnh lý khối u khác trong tiểu khung. Tuy nhiên vai trò của CA 125 trong sàng lọc ung thư buồng trứng còn nhiều ý kiến khác nhau chưa đồng thuận, và FDA (Food and Drug Association) của Hoa Kỳ chưa công nhận CA 125 là một dấu ấn ung thư độc lập (chỉ cần một mình CA 125) đủ độ tin cậy trong chẩn đoán ung thư buồng trứng. Hiện nay vẫn còn những vấn đề về cấu trúc, mối tương quan giữa cấu trúc với tính chất sinh học của CA 125 mà y học vẫn chưa lý giải được, hơn nữa bản thân CA 125 cũng không phải là một phân tử có cấu trúc tồn tại độc lập.

CA 125 còn được biết đến dưới một tên khoa học khác là MUC16, và MUC16 có trọng lượng phân tử dao động trong khoảng 3000-5000kD, với bản chất là mucin thuộc nhóm glycoprotein, MUC16 có khả năng thúc đẩy sự tăng sinh của các tế bào ung thư và ức chế phản ứng loại bỏ tiến trình ung thư của cơ thể. Nhưng phân tử CA 125 hoạt động chỉ có trọng lượng dao động trong khoảng 200-1000kD, thường gặp nhất là phân tử CA 125 có trọng lượng 220kD, kháng nguyên CA 125 có bản chất là các phân đoạn peptide có tính chất lập lại nằm trong cấu trúc phân tử MUC16.

Ngoài ung thư buồng trứng, nồng độ CA 125 trong máu còn tăng cao còn gặp ở cả ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư vòi trứng, ung thư thực quản, ung thư tụy, ung thư dạ dày và ung thư gan. Một số bệnh lý không phải ung thư như: tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, nhiễm khuẩn vùng tiểu khung, viêm buồng tử cung, phụ nữ có thai và phụ nữ đến ngày chu kỳ tháng nồng độ CA 125 trong máu cũng có thể tăng cao hơn bình thường.

4. Cancer antigen 19-9 (CA 19-9)

Kháng nguyên CA 19-9 được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1979 trên bệnh nhân ung thư đại tràng, thời gian bán hủy của CA 19-9 vào khoảng 1-3 ngày, CA 19-9 chính thức được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng từ năm 1983. Trên thực tế hiện nay, CA 19-9 được áp dụng chủ yếu đối với ung thư tụy (pancreatic cancer) và ung thư đường mật (cholangiocarcinoma).

Ngoài bệnh lý ung thư tụy và ung thư đường mật, nồng độ CA 19-9 trong máu tăng cao còn gặp ở bệnh lý ung thư đại tràng, ung thư dạ dày, ung thư thực quản và ung thư gan. Bên cạnh đó nồng độ CA 19-9 trong máu có thể tăng cao trong một số bệnh lý không ung thư, như: viêm đường mật, sỏi mật, tắc mật do các nguyên nhân khác nhau, viêm tụy và xơ gan.

Chúng ta biết rằng mỗi một người đều mang một nhóm máu nhất định, trên lâm sàng hệ thống nhóm máu hay được sử dụng nhất là hệ thống phân loại ABO, tuy nhiên bên cạnh đó còn có những nhóm máu khác như Rh, Lewis......hệ thống nhóm máu Lewis (Le) được chia làm 04 nhóm là: Le(a-b+), Le(a+b-), Le(a+b+) và Le(a-b-). Những người mang nhóm máu Le(a-b-) không có khả năng tạo ra CA 19-9, chính vì vậy trên những bệnh nhân này dù có ung thư tụy hay ung thư đường mật thì xét nghiệm CA 19-9 hoàn toàn không có giá trị.

5. Cancer antigen 72-4 (CA 72-4)

CA 72-4 có bản chất là một glycoprotein với trọng lượng phân tử dao động trong khoảng 200-420kD, CA 72-4 là kháng nguyên được tìm thấy trên bề mặt của tế bào khối U (ung thư). CA 72-4 được chủ yếu sử dụng trong bệnh lý ung thư dạ dày, tiếp đến là ung thư buồng trứng. Tuy nhiên nồng độ CA 72-4 trong máu tăng cao có thể gặp cả ở bệnh lý khối U tuyến vú, khối U tụy và khối U ống tiêu hóa dưới (đại tràng – trực tràng).

Độ nhạy của CA 72-4 trong chẩn đoán ung thư dạ dày theo các nghiên cứu khác nhau, có sự dao động khá nhiều, vào khoảng 20-60%. Chính vì vậy nếu chỉ sử dụng CA 72-4 để sàng lọc bệnh nhân ung thư dạ dày thì sẽ bỏ sót khá nhiều bệnh nhân.

Xét nghiệm kết hợp CA 72-4 với CEA và CA 19-9 sẽ làm tăng độ nhạy trong chẩn đoán ung thư dạ dày, còn nếu xét nghiệm lết hợp CA 72-4 với CA 125 sẽ làm tăng độ nhạy trong chẩn đoán ung thư buồng trứng.

So sánh với một số dấu ấn ung thư khác, CA 72-4 tuy có độ nhạy dao động khá lớn và thường không cao, nhưng độ đặc hiệu  và độ chẩn đoán phù hợp hợp khá cao, độ đặc hiệu > 90% và độ chẩn đoán phù hợp khoảng 80%.

6. Cytokeratin Fragment 19 (Cyfra 21-1)

Cytokeratin fragment 19 có bản chất là protein, tham gia vào quá trình tạo nên hệ thống mạng lưới nội bào tương của tế bào.

Cyfra 21-1  được sử dụng trên lâm sàng chủ yếu đối với ung thư phế quản phổi. Nghiên cứu vai trò của Cyfra 21-1 trong ung thư phổi (ung thư phổi không phải loại tế bào nhỏ) được công bố lần đầu tiên vào năm 1992.

Trong thực hành lâm sàng, nồng độ Cyfra 21-1 trong máu tăng cao có thể gặp cả ở bệnh lý ung thư vú – ung thư vùng hầu họng, đầu mặt cổ, ung thư trực tràng, ung thư bàng quang và ung thư  tử cung phần phụ. Ở một số bệnh nhân tâm phế mạn, viêm phổi và hen phế quản nồng độ Cyfra 21-1 cũng có thể tăng cao.

Tuy Cyfra 21-1 chưa thể sử dụng như một chỉ số trong sàng lọc ung thư phổi ở cộng đồng, nhưng Cyfra 21-1  có giá trị khá tốt đối với việc đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi bệnh tái phát sau điều trị đối với ung thư phế quản phổi.

7. Prostate Specific Antigen (PSA)

PSA có bản chất là glycoprotein, do tế bào biểu mô của tuyến tiền liệt bài tiết ra, chính vì vậy PSA được áp dụng chủ yếu đối với ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không phải bệnh lý ung thư, như: chấn thương tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo sau có kết hợp với viêm tuyến tiền liệt, u xơ tiền liệt tuyến thì nồng độ PSA cũng có thể tăng cao hơn mức bình thường.

Có khoảng 25-30% bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến nhưng nồng độ PSA vẫn trong giới hạn thường, và số bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến có nồng độ PSA > 10ng/ml chỉ vào khoảng 50%. Chính vì vậy việc kết hợp với các phương pháp chẩn đoán khác (siêu âm – chụp cắt lớp, cộng hưởng từ - sinh thiết làm chẩn đoán tế bào học – PET CT.....) là cần thiết trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến. Khi nồng độ PSA cao trên 20ng/ml, đánh giá ung thư tiền liệt tuyến có di căn hay không là điều cần thiết nên làm.

8. Cancer Antigen 27.29 (CA 27.29) và Cancer Antigen 15-3 (CA 15-3)

CA 15-3 và CA 27.29 là các dấu ấn sinh học được sử dụng chủ yếu đối với chẩn đoán ung thu vú, tuy nhiên hiện nay với sự phát triển và hiểu biết ngày một sâu rộng – một số dấu ấn sinh học khác cũng ngày một được áp dụng rộng rãi hơn trong sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi sau điều trị.

CA 15-3 là dấu ấn sinh học được áp dụng sớm nhất và rộng rãi nhất trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú. Tỷ lệ nồng độ CA 15-3 trong máu tăng cao tương ứng với giai đoạn ung thư, nếu như ung thư vú giai đoạn I chỉ có khoảng 10% có nồng độ CA 15-3 tăng cao thì đối với giai đoạn II, giai đoạn III, giai đoạn IV thì tỷ lệ này tăng lên tương ứng là 20% - 40% và 75%. Tuy nhiên, trong cộng đồng nữ giới trưởng thành, đặc biệt ở phụ nữ trung niên trở nên, có khoảng 5% không có ung thư vú nhưng nồng độ CA 15-3 có thể vẫn tăng cao hơn bình thường. Khi nồng độ CA 15-3 tăng cao trên 5 lần so với giá trị bình thường, trong thực hành lâm sàng cần chú ý đánh giá ung thư vú có di căn.

Cũng như CA 15-3, CA 27.29 cũng là một dấu ấn sinh học nằm cùng nhóm kháng nguyên liên quan với nguồn gốc mucin 1, được áp dụng đối với ung thư vú. Mucin-1 (MUC-1) là loại khác với mucin được tìm thấy trong lớp dịch nhày của biểu mô ống tiêu hóa hay hô hấp, MUC-1 được tìm thấy đầu tiên ở sữa người, đây là loại glycoprotein có trọng lượng phân tử lớn và trong thành phần có nhiều amino acid là serine, threonine và proline với các cầu nối carbonhydrate đặc trưng riêng.

Ung thư vú giai đoạn I-II chỉ có khảng 30% bệnh nhân có tăng CA 27.29, tuy nhiên tỷ lệ này tăng lên 75-80% ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II-IV. Ngoài ung thư vú, CA 27.29 có thể tăng cao trong một số bệnh lý khác như: ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư buồng trứng, ung thư tiền liệt tuyến, hay bệnh lý nang tuyến vú, nang gan, nang thận và u nang buồng trứng.

Ung thư là bệnh lý phức tạp, ung thư vừa là một chuyên ngành y học riêng, nhưng đồng thời mỗi một chuyên ngành y học đều có bệnh lý ung thư. Việc nghiên cứu – chẩn đoán – điều trị và quản lý bệnh lý ung thư đòi hỏi phải có sự phối hợp đa ngành, đa chuyên khoa và trong thực hành lâm sàng thì mỗi một bác sĩ – cũng như người bệnh và gia đình người bệnh đều cần có những hiểu biết nhất định về bệnh lý ung thư. Trong phạm vi bài viết này, chỉ giới hạn ở khía cạnh một số kiến thức căn bản đối với một số dấu ấn sinh học thường được dùng trên lâm sàng.

TS. BS. Bùi Xuân Trường

Chuyên khoa: Tiêu hóa – Gan mật – Viêm gan và Nội soi Tiêu hóaMột số dấu ấn ung thư trên lâm sàng: điều nên biết

Dấu ấn ung thư (tumor marker) là một khái niệm tương đối rộng, dấu ấn ung thư có thể là sản phẩm được trực tiếp tạo ra từ các tế bào ác tính (tế bào ung thư), hoặc là các sản phẩm của cơ thể tạo ra trong mối liên quan đến quá trình hình thành ung thư. Xét nghiệm dấu ấn ung thư có thể từ tổ chức khối u, từ máu, từ phân hoặc từ dịch cơ thể.

Hiện nay khái niệm dấu ấn ung thư gen học cũng ngày một phát triển, dấu ấn ung thư gen học là một khái niệm mới so với khái niệm dấu ấn ung thư truyền thống. Tuy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm gen cũng lấy từ tổ chức khối u, từ máu, từ phân hoặc từ dịch cơ thể, nhưng bản chất các gen không phải là sản phẩm của các tế bào ác tính và cũng không phải là sản phẩm của cơ thể tạo ra trong quá trình hình thành ung thư.

Dấu ấn ung thư được sử dụng trong cả sàng lọc (đánh giá nguy cơ mắc bệnh ở người bình thường), chẩn đoán bệnh, chẩn đoán giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh và theo dõi sự tái phát bệnh sau điều trị.

Tuy nhiên, bạn cần biết rằng ung thư là một quá trình phức tạp, để hình thành được ung thư thì cần có nhiều tác nhân khác nhau, bao gồm: các yếu tố nguy cơ (vi khuẩn, virus, sự tác động của quá trình vật lý-hóa học), sự phản ứng tương tác của cơ thể trước các yếu tố nguy cơ, ngoài ra cần phải có một tiến trình thời gian đủ dài. Hơn nữa, nhiều dấu ấn ung thư có thể thay đổi theo chu kỳ sinh lý cơ thể, tuổi tác, có thể tăng do quá viêm thông thường hoặc có thể tăng do sự tác động của môi trường sống và ăn uống.

Chính vì vậy, khi bạn đi xét nghiệm và thấy chỉ số dấu ấn ung thư có thay đổi thì cũng chưa nên quá hoảng loạn, đặc biệt là khi sự thay đổi không quá nhiều, vì giữa sự thay đổi giá trị xét nghiệm dấu ấn ung thư với việc bạn có bị ung thư hay không nhiều khi cần phải có sự xác định phối hợp với các phương pháp khác.

Trong phạm vi bài này, chỉ đề cập đến một số dấu ấn ung thư phổ thông hay được áp dụng trên lâm sàng hiện nay. Đây là dấu ấn ung thư chủ yếu dựa trên xét nghiệm miễm dịch huyết thanh học (bệnh phẩm là máu).

1. Alfa-fetoprotein (α-fetoprotein, AFP)

AFP là một glycoprotein lưu hành trong máu với trọng lượng khoảng 70kD (kilodaltons), AFP chủ yếu được tổng hợp từ gan của thai nhi và có thời gian bán hủy khoảng 5-7 ngày. Ngoài ra trong thời kỳ thai nhi, ngoài gan, tế bào thuộc hệ thống ống ruột (để tạo nên cơ quan tiêu hóa sau này) và một số tế bào thai nhi thuộc hệ thống tạo màng cũng có khả năng tiết ra AFP. Sau khi trẻ được sinh ra thì hàm lượng AFP trong máu nhanh chóng giảm xuống, ở người trưởng thành bình thường nồng độ AFP thường dưới 20 ng/ml.

Kể từ thời điểm phát hiện ra vai trò của AFP  trong ung thư gan, trải qua hàng chục năm nghiên cứu, các nhà y học đã chỉ ra rằng không phải cứ có nồng độ AFP tăng cao trong máu là có ung thư gan, và ngược lại không phải cứ có ung thư gan là nồng độ AFP tăng cao (đặc biệt là ung thư tế bào gan giai đoạn sớm hoặc ung thư đường mật trong gan).

Nồng độ AFP trong máu tăng cao hơn giá trị bình thường có thể gặp ở phụ nữ có thai, bệnh nhân viêm gan, xơ gan, ung thư buồng trứng, ung thư dạ dày, ung thư đường mật, ung thư tụy, ung thư phổi.

Ngược lại khi nồng độ AFP tăng cao nhưng không vượt quá 200ng/ml, nếu chỉ dựa vào chỉ số AFP đơn thuần để chẩn đoán ung thư gan thì có thể bỏ sót bệnh đến 40-50%. Chính vì vậy, để tránh bỏ sót bệnh, người thầy thuốc thường khuyên bạn cần phải làm kết hợp thêm với siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI), chụp PET-CT hay một số trường hợp cần phải làm kết kết hợp với chọc hút tế bào gan hoặc sinh thiết gan.

2. Carcinoembryonic antigen (CEA)

CEA lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1965, với bản chất là một glycoprotein bề mặt với trọng lượng phân tử khoảng 200kD do các tế bào biểu mô tiết ra, đặc biệt là tế bào biểu mô ống tiêu hóa dưới.

Tuy CEA được áp dụng chủ yếu trong chẩn đoán ung thư đại tràng – nhưng chúng ta cần lưu ý việc sàng lọc ung thư đại tràng hiện nay thì chỉ riêng chỉ số CEA chưa thể đủ độ tin cậy để tiến hành sàng lọc bệnh trong cộng đồng. Hiện nay việc sàng lọc ung thư đại tràng trong cộng đồng, các tổ chức y học vẫn khuyến cáo chủ yếu dựa vào xét nghiệm hồng cầu trong phân, nội soi đại tràng bằng ống soi mềm, hoặc nội soi không dây (nội soi viên nang: capsule endoscopy).......nhưng khi bạn bị ung đại tràng và đã điều trị, thì việc xét nghiệm định kỳ CEA 02 tháng/lần có ý nghĩa rất tốt để tầm soát bệnh có tái phát hay không.

Nồng độ CEA trong máu tăng cao có thể gặp ở người hút thuốc lá, hoặc ở nhiều bệnh lý không phải là ung thư như: viêm tụy, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm ruột (ruột non, đại tràng), xơ gan, các bệnh lý gây tắc mật, suy chức năng tuyến giáp.

Một số bệnh lý ung thư khác cũng có thể làm tăng nông độ CEA trong máu như: ung thư buồng trứng, bệnh lý khối u vùng tiểu khung, ung thư dạ dày, ung thư tụy, ung thư gan, bệnh máu ác tính, ung thư vú, hoặc thậm chí ung thư tuyến giáp và vùng đầu mặt cổ cũng có thể làm tăng nồng độ CEA trong máu.

3. Cancer antigen 125 (CA 125)

CA 125 là dấu ấn ung thư bắt đầu được sử dụng trên lâm sàng từ những năm thập niên 1980s. CA 125  được sử dụng trong cả sàng lọc, chẩn đoán, tầm soát bệnh tái phát đối với bệnh lý ung thư buồng trứng, cũng như giúp ích cho việc chẩn đoán phân biệt giữa ung thư buồng trứng với các bệnh lý khối u khác trong tiểu khung. Tuy nhiên vai trò của CA 125 trong sàng lọc ung thư buồng trứng còn nhiều ý kiến khác nhau chưa đồng thuận, và FDA (Food and Drug Association) của Hoa Kỳ chưa công nhận CA 125 là một dấu ấn ung thư độc lập (chỉ cần một mình CA 125) đủ độ tin cậy trong chẩn đoán ung thư buồng trứng. Hiện nay vẫn còn những vấn đề về cấu trúc, mối tương quan giữa cấu trúc với tính chất sinh học của CA 125 mà y học vẫn chưa lý giải được, hơn nữa bản thân CA 125 cũng không phải là một phân tử có cấu trúc tồn tại độc lập.

CA 125 còn được biết đến dưới một tên khoa học khác là MUC16, và MUC16 có trọng lượng phân tử dao động trong khoảng 3000-5000kD, với bản chất là mucin thuộc nhóm glycoprotein, MUC16 có khả năng thúc đẩy sự tăng sinh của các tế bào ung thư và ức chế phản ứng loại bỏ tiến trình ung thư của cơ thể. Nhưng phân tử CA 125 hoạt động chỉ có trọng lượng dao động trong khoảng 200-1000kD, thường gặp nhất là phân tử CA 125 có trọng lượng 220kD, kháng nguyên CA 125 có bản chất là các phân đoạn peptide có tính chất lập lại nằm trong cấu trúc phân tử MUC16.

Ngoài ung thư buồng trứng, nồng độ CA 125 trong máu còn tăng cao còn gặp ở cả ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư vòi trứng, ung thư thực quản, ung thư tụy, ung thư dạ dày và ung thư gan. Một số bệnh lý không phải ung thư như: tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim, nhiễm khuẩn vùng tiểu khung, viêm buồng tử cung, phụ nữ có thai và phụ nữ đến ngày chu kỳ tháng nồng độ CA 125 trong máu cũng có thể tăng cao hơn bình thường.

4. Cancer antigen 19-9 (CA 19-9)

Kháng nguyên CA 19-9 được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1979 trên bệnh nhân ung thư đại tràng, thời gian bán hủy của CA 19-9 vào khoảng 1-3 ngày, CA 19-9 chính thức được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng từ năm 1983. Trên thực tế hiện nay, CA 19-9 được áp dụng chủ yếu đối với ung thư tụy (pancreatic cancer) và ung thư đường mật (cholangiocarcinoma).

Ngoài bệnh lý ung thư tụy và ung thư đường mật, nồng độ CA 19-9 trong máu tăng cao còn gặp ở bệnh lý ung thư đại tràng, ung thư dạ dày, ung thư thực quản và ung thư gan. Bên cạnh đó nồng độ CA 19-9 trong máu có thể tăng cao trong một số bệnh lý không ung thư, như: viêm đường mật, sỏi mật, tắc mật do các nguyên nhân khác nhau, viêm tụy và xơ gan.

Chúng ta biết rằng mỗi một người đều mang một nhóm máu nhất định, trên lâm sàng hệ thống nhóm máu hay được sử dụng nhất là hệ thống phân loại ABO, tuy nhiên bên cạnh đó còn có những nhóm máu khác như Rh, Lewis......hệ thống nhóm máu Lewis (Le) được chia làm 04 nhóm là: Le(a-b+), Le(a+b-), Le(a+b+) và Le(a-b-). Những người mang nhóm máu Le(a-b-) không có khả năng tạo ra CA 19-9, chính vì vậy trên những bệnh nhân này dù có ung thư tụy hay ung thư đường mật thì xét nghiệm CA 19-9 hoàn toàn không có giá trị.

5. Cancer antigen 72-4 (CA 72-4)

CA 72-4 có bản chất là một glycoprotein với trọng lượng phân tử dao động trong khoảng 200-420kD, CA 72-4 là kháng nguyên được tìm thấy trên bề mặt của tế bào khối U (ung thư). CA 72-4 được chủ yếu sử dụng trong bệnh lý ung thư dạ dày, tiếp đến là ung thư buồng trứng. Tuy nhiên nồng độ CA 72-4 trong máu tăng cao có thể gặp cả ở bệnh lý khối U tuyến vú, khối U tụy và khối U ống tiêu hóa dưới (đại tràng – trực tràng).

Độ nhạy của CA 72-4 trong chẩn đoán ung thư dạ dày theo các nghiên cứu khác nhau, có sự dao động khá nhiều, vào khoảng 20-60%. Chính vì vậy nếu chỉ sử dụng CA 72-4 để sàng lọc bệnh nhân ung thư dạ dày thì sẽ bỏ sót khá nhiều bệnh nhân.

Xét nghiệm kết hợp CA 72-4 với CEA và CA 19-9 sẽ làm tăng độ nhạy trong chẩn đoán ung thư dạ dày, còn nếu xét nghiệm lết hợp CA 72-4 với CA 125 sẽ làm tăng độ nhạy trong chẩn đoán ung thư buồng trứng.

So sánh với một số dấu ấn ung thư khác, CA 72-4 tuy có độ nhạy dao động khá lớn và thường không cao, nhưng độ đặc hiệu  và độ chẩn đoán phù hợp hợp khá cao, độ đặc hiệu > 90% và độ chẩn đoán phù hợp khoảng 80%.

6. Cytokeratin Fragment 19 (Cyfra 21-1)

Cytokeratin fragment 19 có bản chất là protein, tham gia vào quá trình tạo nên hệ thống mạng lưới nội bào tương của tế bào.

Cyfra 21-1  được sử dụng trên lâm sàng chủ yếu đối với ung thư phế quản phổi. Nghiên cứu vai trò của Cyfra 21-1 trong ung thư phổi (ung thư phổi không phải loại tế bào nhỏ) được công bố lần đầu tiên vào năm 1992.

Trong thực hành lâm sàng, nồng độ Cyfra 21-1 trong máu tăng cao có thể gặp cả ở bệnh lý ung thư vú – ung thư vùng hầu họng, đầu mặt cổ, ung thư trực tràng, ung thư bàng quang và ung thư  tử cung phần phụ. Ở một số bệnh nhân tâm phế mạn, viêm phổi và hen phế quản nồng độ Cyfra 21-1 cũng có thể tăng cao.

Tuy Cyfra 21-1 chưa thể sử dụng như một chỉ số trong sàng lọc ung thư phổi ở cộng đồng, nhưng Cyfra 21-1  có giá trị khá tốt đối với việc đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi bệnh tái phát sau điều trị đối với ung thư phế quản phổi.

7. Prostate Specific Antigen (PSA)

PSA có bản chất là glycoprotein, do tế bào biểu mô của tuyến tiền liệt bài tiết ra, chính vì vậy PSA được áp dụng chủ yếu đối với ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không phải bệnh lý ung thư, như: chấn thương tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo sau có kết hợp với viêm tuyến tiền liệt, u xơ tiền liệt tuyến thì nồng độ PSA cũng có thể tăng cao hơn mức bình thường.

Có khoảng 25-30% bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến nhưng nồng độ PSA vẫn trong giới hạn thường, và số bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến có nồng độ PSA > 10ng/ml chỉ vào khoảng 50%. Chính vì vậy việc kết hợp với các phương pháp chẩn đoán khác (siêu âm – chụp cắt lớp, cộng hưởng từ - sinh thiết làm chẩn đoán tế bào học – PET CT.....) là cần thiết trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến. Khi nồng độ PSA cao trên 20ng/ml, đánh giá ung thư tiền liệt tuyến có di căn hay không là điều cần thiết nên làm.

8. Cancer Antigen 27.29 (CA 27.29) và Cancer Antigen 15-3 (CA 15-3)

CA 15-3 và CA 27.29 là các dấu ấn sinh học được sử dụng chủ yếu đối với chẩn đoán ung thu vú, tuy nhiên hiện nay với sự phát triển và hiểu biết ngày một sâu rộng – một số dấu ấn sinh học khác cũng ngày một được áp dụng rộng rãi hơn trong sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi sau điều trị.

CA 15-3 là dấu ấn sinh học được áp dụng sớm nhất và rộng rãi nhất trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú. Tỷ lệ nồng độ CA 15-3 trong máu tăng cao tương ứng với giai đoạn ung thư, nếu như ung thư vú giai đoạn I chỉ có khoảng 10% có nồng độ CA 15-3 tăng cao thì đối với giai đoạn II, giai đoạn III, giai đoạn IV thì tỷ lệ này tăng lên tương ứng là 20% - 40% và 75%. Tuy nhiên, trong cộng đồng nữ giới trưởng thành, đặc biệt ở phụ nữ trung niên trở nên, có khoảng 5% không có ung thư vú nhưng nồng độ CA 15-3 có thể vẫn tăng cao hơn bình thường. Khi nồng độ CA 15-3 tăng cao trên 5 lần so với giá trị bình thường, trong thực hành lâm sàng cần chú ý đánh giá ung thư vú có di căn.

Cũng như CA 15-3, CA 27.29 cũng là một dấu ấn sinh học nằm cùng nhóm kháng nguyên liên quan với nguồn gốc mucin 1, được áp dụng đối với ung thư vú. Mucin-1 (MUC-1) là loại khác với mucin được tìm thấy trong lớp dịch nhày của biểu mô ống tiêu hóa hay hô hấp, MUC-1 được tìm thấy đầu tiên ở sữa người, đây là loại glycoprotein có trọng lượng phân tử lớn và trong thành phần có nhiều amino acid là serine, threonine và proline với các cầu nối carbonhydrate đặc trưng riêng.

Ung thư vú giai đoạn I-II chỉ có khảng 30% bệnh nhân có tăng CA 27.29, tuy nhiên tỷ lệ này tăng lên 75-80% ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II-IV. Ngoài ung thư vú, CA 27.29 có thể tăng cao trong một số bệnh lý khác như: ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư buồng trứng, ung thư tiền liệt tuyến, hay bệnh lý nang tuyến vú, nang gan, nang thận và u nang buồng trứng.

Ung thư là bệnh lý phức tạp, ung thư vừa là một chuyên ngành y học riêng, nhưng đồng thời mỗi một chuyên ngành y học đều có bệnh lý ung thư. Việc nghiên cứu – chẩn đoán – điều trị và quản lý bệnh lý ung thư đòi hỏi phải có sự phối hợp đa ngành, đa chuyên khoa và trong thực hành lâm sàng thì mỗi một bác sĩ – cũng như người bệnh và gia đình người bệnh đều cần có những hiểu biết nhất định về bệnh lý ung thư. Trong phạm vi bài viết này, chỉ giới hạn ở khía cạnh một số kiến thức căn bản đối với một số dấu ấn sinh học thường được dùng trên lâm sàng.

TS. BS. Bùi Xuân Trường

Chuyên khoa: Tiêu hóa – Gan mật – Viêm gan và Nội soi Tiêu hóa

  


Các tin khác
Tổn thương gan thoái hóa mỡ không do rượu (22/12)
Một số tiến bộ trong điều trị viêm gan C (07/05)
Áp xe gan do a míp (21/02)
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng có xu hướng trẻ hóa (16/04)
Túi axít dạ dày là gì: một khái niệm mới trong y học (16/04)
Lây nhiễm virus viêm gan B từ mẹ sang con: điều bạn nên biết (11/04)
Điều trị lao đa kháng thuốc (17/03)
Nhiễm giun móc: bệnh lý phổ biến tại Việt Nam (17/03)
Sán lá gan: căn bệnh cần được quan tâm (05/03)
Viêm thanh quản cấp (24/02)
 
Benh vien Bach Mai
 

Bản quyền thuộc về Cty CP y tế Thăng Long
Chịu trách nhiệm nội dung: Phòng khám đa khoa Đông Đô

Số 61, Đường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
Tel: (04) 3576 3699 * Fax: (04) 3576 3699
Ghi rõ nguồn "phongkhamdongdo.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Email: phongkhamdongdo@gmail.com * Website: www.phongkhamdongdo.vn