PHÒNG KHÁM ĐA KHOA ĐÔNG ĐÔ
     Chia sẻ và đồng hành cùng người bệnh!
  Y học thường thức
 
Áp xe gan do a míp
(14:23, 21/02/2016)

Trong các bệnh lý do ký sinh trùng ở người, bệnh lý do a míp khá phổ biến với khoảng 500 triệu người trên thế giới nhiễm bệnh ở các mức độ khác nhau và a míp là nguyên nhân gây tử vong khoảng 100.000 bệnh nhân mỗi năm. A míp có nhiều loại, tuy nhiên chỉ có khoảng sáu chủng: Entamoeba histolytica (E. histolytica), Entamoeba dispar (E. dispar), Entamoeba moshkovskii (E. moshkovkii), Entamoeba polecki (E. polecki), Entamoeba coli (E. coli) và Entamoeba hartmanni (E. hartmanni) có khả năng khư trú ở người. Nhưng không phải tất cả các chủng này đều có khả năng gây bệnh, cho đến nay chỉ có E. hystolytica được coi là a míp có khả năng gây bệnh ở người, tuy rằng gần đây có một số tác giả đưa ra bằng chứng E. disparE. moshkovkii có thể gây bệnh ở người, bằng chứng này hiện nay đang được kiểm chứng và làm sáng tỏ thêm.

Bệnh lý do a míp đã được y học đề cập đến từ lâu, nhưng E. hystolytica được Fedor Losch mô tả-đề cập đầu tiên vào năm 1875, sau đó chính thức được định danh vào năm 1903 bởi Fritz Schaudinn và đến năm 1945 Robert Kock đưa ra minh chứng xác định E. hystolytica có khả năng gây áp xe gan. Khoảng 90% số trường nhiễm E. hystolytica không có biểu hiện bệnh lý lâm sàng (nhiễm nhưng không có biểu hiện bệnh lý), và rất hiếm gặp tìm thấy a míp trong phân ở những người này, nhưng làm xét nghiệm huyết thanh học có thể thấy nồng độ kháng thể kháng a míp tăng. Bệnh lý do a míp thường gặp nhất là viêm ống tiêu hóa (viêm đại tràng/bệnh lỵ do a míp) và bệnh lý ngoài ống tiêu hóa: trong đó phổ biến nhất là áp xe gan do a míp. Tuy nhiên, trong một số rất ít trường hợp a míp có thể gây bệnh lý cả ở phổi, ở hệ tiết niệu và xâm nhập vào dịch não tủy.

Áp xe gan do a míp được hình thành khi a míp di chuyển từ đại tràng lên gan, tạo nên ổ áp xe tại gan và thường gặp ở gan phải. Việc ổ áp xe thường gặp ở gan phải được lý giải bởi a míp thâm nhập vào hệ tĩnh mạch cửa để theo dòng máu di chuyển lên gan và gan phải là nơi tiếp nhận dòng máu từ manh tràng và đại tràng lên.

Biến chứng nguy hiểm nhất là vỡ ổ áp xe, ổ áp xe vỡ có thể vào màng tim – màng phổi và vào khoang ổ bụng, nếu có bội nhiễm vi khuẩn kèm theo tình trạng bệnh sẽ nặng và nguy cơ tử vong cao.

Triệu chứng lâm sàng thường gặp của áp xe gan do a míp bao gồm:

  1. Các triệu chứng thường gặp:

Sốt

Đau hạ sườn phải

Gan to, ấn đau và có thể có phản ứng thành bụng kèm theo

  1. Các triệu chứng hiếm gặp hơn

Vàng da

Ho, đau phần thấp ngực phải - rì rào phế nang giảm, có thể có rales nổ kèm theo.

Bệnh kéo dài hoặc không được chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể gầy sút, mệt mỏi và ăn ngủ kém.

Một số ít trường hợp vừa có biểu hiện của áp xe gan, vừa có biểu hiện của bệnh lỵ do a míp

Xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh:

  1. Xét nghiệm máu thường qui

Có tăng bạch cầu với tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính bình thường

Có thể có thiếu máu nhẹ

Tăng phosphatase kiềm

Tốc độ máu lắng tăng

  1. Xét nghiệm huyết thanh học và phân tử

- Xét nghiệm huyết thanh học xác định kháng thể kháng lại E. hystolytica, tuy nhiên phản ứng xác định có thể âm tính hoặc nồng độ kháng thể tăng không đáng kể trong 7-10 ngày đầu của bệnh.

- Xét nghiệm ở mức độ phân tử có thể là phản ứng PCR (khuyếch đại chuỗi gen) thường qui hoặc bằng Real-time PCR, thời gian gần đây ở những vùng dịch tễ học của E. hystolytica một số tác giả còn áp dụng cả phương pháp Microarray.

  1. Xét nghiệm nhuộm soi tìm E. hystolytica trong phân hoặc trong dịch mủ áp xe

- Phần lớn các trường hợp nhuộm và soi tìm E. hystolytica trong phân ở bệnh nhân áp xe gan do a míp đều âm tính. Do vậy phương pháp này gần như không áp dụng thường qui đối với áp xe gan do a míp – chỉ áp dụng đối với lỵ a míp.

- Chỉ có không quá 20% nhuộm và soi tìm được E. hystolytica trong dịch mủ ổ áp xe.

  1. Chẩn đoán hình ảnh (Siêu âm – Chụp cắt lớp vi tính, CT Scan – Chụp MRI....)

- Siêu âm là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất trong các phương pháp chẩn đoán hình ảnh. Ổ áp xe thường nằm ở gan phải và có một ổ, đôi khi cũng có thể là một vài ổ hoặc ổ áp xe ở gan trái, với hình thái khối giảm âm có ranh giới rõ trên nền nhu mô gan xung quanh bình thường – dịch trong ổ áp xe có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất (tùy theo giai đoạn bệnh).

- Hình ảnh gián tiếp, tùy theo vị trí ổ áp xe có thể thấy cơ hoành bị đẩy lồi lên hoặc đáy phổi phải mờ hay có ít dịch trên phim chụp X. quang.

Chẩn đoán bệnh:

Chẩn đoán áp xe gan không khó – nhưng chẩn đoán xác định là áp xe gan do a míp cần dựa vào:

- Dịch tễ học: người bệnh sống trong vùng dịch tễ hoặc trở về từ vùng dịch tễ hay bị nhiễm a míp và xuất hiện bệnh sau khoảng 8-20 tuần.

- Triệu chứng lâm sàng kết hợp với xét nghiệm máu thường qui và chẩn đoán hình ảnh.

- Dựa vào tính chất mủ của ổ áp xe: màu nâu đỏ hoặc nâu đỏ sẫm không có mùi đặc trưng của nhiễm khuẩn.

- Nếu có xét nghiệm huyết thanh học, xét nghiệm phân tử hoặc nhuộm soi tìm thấy a míp sẽ cho kết luận đặc hiệu.

Điều trị:

Hiện nay áp xe gan do a míp cơ bản được điều trị bằng thuốc hoặc kết hợp giữa thuốc và chọc hút dẫn lưu, điều trị phẫu thuật chỉ áp dụng trong trường hợp có biến chứng ổ áp xe vỡ.

Các thuốc:

- Metronidazole dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch từ 7 - 10 ngày

- Tinidazole dùng đường uống từ 3 - 5 ngày

- Ornidazole dùng đường tĩnh mạch từ từ 3 - 6 ngày

- Một số thuốc khác: Nitazoxanide, Paromycin, Diiodohydroxyquin, Diloxanide furoate

Chọc hút dẫn lưu:

Chỉ định chọc hút, dẫn lưu được áp dụng trong trường hợp:

- Ổ áp xe dọa vỡ

- Ổ áp xe có đường kính lớn hơn 5cm hoặc ổ áp xe không lớn nhưng do điều trị dở dang kéo dài mủ đặc quánh và vỏ ổ áp xe có hiện tượng xơ hóa.

Tuy nhiên, một số bệnh viện và trung tâm y tế có kinh nghiệm, có đầy đủ nhiều loại thuốc Metronidazole, Tinidazole, Ornidazole, Nitazoxanide.....thì ngay cả trường hợp ổ áp xe có đường kính lớn thì chỉ định chọc hút dẫn lưu cũng ít được đặt ra.

TS. BS. Bùi Xuân Trường

Chuyên khoa: Tiêu hóa – Gan mật – Viêm gan và Nội soi Tiêu hóa

  


Các tin khác
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng có xu hướng trẻ hóa (16/04)
Túi axít dạ dày là gì: một khái niệm mới trong y học (16/04)
Lây nhiễm virus viêm gan B từ mẹ sang con: điều bạn nên biết (11/04)
Điều trị lao đa kháng thuốc (17/03)
Nhiễm giun móc: bệnh lý phổ biến tại Việt Nam (17/03)
Sán lá gan: căn bệnh cần được quan tâm (05/03)
Viêm thanh quản cấp (24/02)
Ung thư gan tại Việt Nam: tại sao chúng ta cần chú ý (24/02)
Bệnh lý khối U trong gan và ung thư tế bào gan (10/02)
Vì sao chúng ta nên sàng lọc ung thư dạ dày - đại trực tràng (10/02)
 
Benh vien Bach Mai
 

Bản quyền thuộc về Cty CP y tế Thăng Long
Chịu trách nhiệm nội dung: Phòng khám đa khoa Đông Đô

Số 61, Đường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
Tel: (04) 3576 3699 * Fax: (04) 3576 3699
Ghi rõ nguồn "phongkhamdongdo.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Email: phongkhamdongdo@gmail.com * Website: www.phongkhamdongdo.vn